Quyển 6: Trần Thái Tông (1226-1258)

TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN ( 1225 – 1413 )
TRẦN THÁI TÔNG HOÀNG ĐẾ (1226 – 1258)

Kỷ nhà Trần bắt đầu ghi dấu
Kể từ năm Ất Dậu nguyên niên
Thái Tông Trần Cảnh nắm quyền
Được Chiêu Hoàng đế đã truyền ngôi cho

Hiệu Kiến Trung kể từ dạo đó
Qua năm sau phế bỏ Thượng Hoàng
Pháp Danh đổi gọi Huệ Quang
Mượn nơi cửa Phật tìm đường nương thân

Chùa Chân Giáo một lần hội ngộ
Độ thấy vua nhổ cỏ ngoài sân
Bèn quay nhắn một lời rằng :
“Nhổ cỏ phải nhổ cả thân rễ này”

Hiểu ý ngay âm mưu của Độ
Y muốn rằng bức tử mình đây !
Vua bèn treo cổ lên cây
Sau chùa Chân giáo trước ngày trung thu.

Đem Thái Hậu gả cho Thủ Độ
Vua bất kể đó chổ bà con
Khởi đầu một kiểu loạn luân
Chị em trong một họ Trần lấy nhau !

Thập kỷ đầu, trên ngôi cửu ngũ (1225 – 1235)
Việc an dân tất cả đều do
Một tay Thủ Độ bấy giờ
Toàn quyền quyết định, bày trò đặt ra

Tiền Tĩnh Bách tung ra khắp nước (1226
Mọi giấy tờ muốn được làm tin
Lăn tay, điểm chỉ mà in
Vào trong đơn viết hai bên đã làm

Lệ hàng năm, lễ thần Đồng Cổ (1230)
Họp vua quan máu nhỏ ăn thề
Truyền cho Tư pháp lập ty
Đặt tên Bình Bạc xét về kiện thưa

Cho cải biên “Quốc Triều Thống Chế” (1230)
Viết “Quốc Triều Thường Lễ” mười pho
Soát xem từ trước tới giờ
Lễ nghi, luật lệ, sửa cho hợp thời

Mở khoa thi chọn người trí thức (1232)
Chọn những ai đáng bực tài danh
Tháng hai, vào đúng năm Thìn
Trương Hạnh, Lưu Diễm xướng danh bản tiền

Đệ nhị giáp : Đặng Diên, Trình Phẩu
Còn Đệ tam : Chu Phổ họ Trần
Quốc Miếu húy chữ đã ban
Để cho dân biết vương mang chữ này

Lời Thủ Độ năm xưa đã rõ
Nhân vào ngày cúng giỗ Tiên Vương (1232)
Tổ chức ở chốn Thái Đường
Mời người họ Lý bốn phương trở về

Trần Thủ Độ sai đi đào hố
Phủ đất rồi dựng ở bên trên
Lể đài hương án trang nghiêm
Giật cho đất sụp giết nguyên mọi người

Qua năm sau tháng hai Giáp Ngọ (1234)
Thượng Hoàng băng vừa độ thu sang
Di hài táng ở Thọ Lăng
Rồi cho Trần Liễu đảm đương chức này

Vua ra lệnh cho xây cung điện
Truyền sai người vét giếng đào kênh
Sổ Dinh rà soát lại xem
Khảo thi tam giáo , sửa đình trùng tu

Triều nhà Trần, thói hư khó nói
Việc đầu tiên là tội loạn luân
Anh em chú bác xa gần
Chị dâu, em rể gió trăng phải lòng

Việc Thái Tông lấy vợ Trần Liễu
Là đề tài đàm tiếu trong dân
Còn Trần Thủ Độ bất cần
Vào năm Ất Dậu. lấy luôn chị mình

Chuyện : ” Trần Liễu vào thành khải tấu
Nhân đi ngang nhìn thấy cung phi
Động lòng chó lợn đòi khi
Dở trò nham nhở Liễu đè cưỡng dâm

Còn Trần Cảnh tà tâm làm tới
Cướp vợ anh vừa mới mang thai
Khiến cho Trần Liễu hận đời
Kéo quân hỏi tội cái loài sói lang

Trong đời tư, mười phần xấu hổ
Nhưng việc triều lại tỏ minh quân
Chỉnh trang phép nước mấy lần
Cải cách thuế khóa khép dần vào khuôn (1242)

Việc binh bị tuyển quân khỏe mạnh (1246)
Mở thao trường dạy đánh kiếm côn
Khảo bài để chọn văn quan
Lựa người tài đức để chăm dân tình

Có lần vua, thân chinh đi đánh
Dồn binh về phía cánh Châu Khâm
Đánh sâu vào trại Như hồng
Châu Liêm sau cũng lọt vòng quân ta

Người nước Tống bỏ nhà bỏ cửa
Chạy trốn về theo ngõ môn quan
Quan, quân nước Tống thất thần
Chăn ngang xích sắt chặn đường quân ta

Năm Dần , Nước chia ra thành Lộ (1242)
Trong toàn quốc có tới mười hai
Dưới là xã, sách rạch ròi
Đặt chức An, Trấn , giử coi mối giềng

Lụt vỡ thành Đại La tháng tám (1243)
Rồi tiếp theo cơn hạn tháng tư
Đắp đê quai vạc để lo
Ngăn dòng nước lũ tuông vô kinh kỳ

Vào mùa thu mở thi tiến sĩ (1247)
Lệ bảy năm khảo thí một lần
Bốn tám người đỗ học sanh
Họ Lê, họ Đặng riêng giành tối ưu

Lê Văn Hưu danh lưu Bảng nhãn
Đặng Ma La vào hạng Thám hoa
Tam khôi giờ mới phân ra :
Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa rõ ràng

Năm Tân Hợi vua ban bài viết (1251)
Cả một chương về việc dạy con
Dạy về cung, kiếm, lương, ôn
Dạy về hòa, tốn , nhớ lòng hiếu trung

Tết nguyên đán vui chung đình đám
Cho diễn trò triển lãm để xem
Kết hoa, hội chợ, treo đèn
Trai thanh gái lịch xem nguyên bảy ngày

Cũng năm này, toàn dân Mông Cổ
Tôn Mông Kha làm chủ Trung Nguyên
Em Kha chiếm hết toàn miền
Vân Nam, Đại Lý thuộc quyền ngoại Mông

Trần Thái Tông sắc phong Lưu Thủ
Cho Nhật Hiệu trấn giữ đất xa
Kinh thành biên ải phòng xa
Vua thân thống lĩnh như là tướng quân

Cuối mùa đông vào năm Nhâm Tý (1252)
Bộ Da La vợ quý Chiêm Thành
Bị ta bắt sống một mình
Lúc ta đánh chiếm hành dinh nước này

Vua hạ lệnh đổi thay quân kỷ
Xuống chiếu mời lực sĩ trong dân
Võ đường, côn kiếm luyện gân
Mở quốc tử giám lập trường giảng kinh

Huy động người vét kinh xây đập
Lo kiện toàn bồi đắp đê sông
Hà đê Chánh phó bố phòng
Cho dân mua lại ruộng công cấy cày (1254)

Xuống chiếu sai vét sông Tô Lịch (1256)
Mở khoa thi khuyến khích người hiền
Quốc Lặc chấm đỗ Trạng Nguyên
Chu Hinh Bảng nhãn, tiếp liền Thám hoa

Quân Mông Cổ dần dà chiếm cứ
Suốt Trung Nguyên cho tới Vân Nam
Nguyên cho sứ giả đi sang
Giữa năm Ất Tỵ dụ hàng đức vua

Vào mùa thu, tin từ Quy Hóa (1257)
Báo về triều sứ đã tới nơi
Nói năng ngạo nghễ lắm lời
Vua bèn hạ lệnh trói tay giam liền

Chọn ngày lành trung tuần tháng chín
Thủy, bộ quân gởi đến biên thùy
Giao cho Quốc Tuấn chỉ huy
Vòng đai phòng ngự trấn vì dọc biên

Vua lại truyền sắm thêm vũ khí
Trữ quân lương chuẩn bị sẵn sàng
Đợi quân của tướng Ngột Lương
Lọt vào cửa tử dọc đường Cà Giang (1258)

Bình Lê Nguyên, bẫy giương đợi giặc
Sông bên này san sát ngựa voi
Quân Nguyên vừa kéo tới nơi
Bị ta mai phục đánh lui bọn này

Triết Triệt Độ, cho người qua trước
Còn Hoài Đô chậm bước theo sau
Quân ta chận đánh đón đầu
Địch lâm vào thế ra vào chẳng xong

Phía hạ lưu giặc đông như kiến
Lính nhà Trần vẫn tiến đánh sang
Dụ cho chúng đến cùng đường
Đột nhiên đánh úp cắt ngang toán này

Vua nhà Trần đổi ngay chiến lược
Cắt đội hình từng bước ém quân
Địa bàn Cự Bản lui dần
Sông Lô án ngữ mấy trăm chiến thuyền

Đại quân Nguyên thấy liền khuyết điểm
Nhắm thuyền Vua cung tiễn bắn sang
May mà lúc đó Lê Tần
Gan lì chịu đựng quay ngang mạn thuyền

Rồi lấy khiên đưa lên đỡ đạn
Để mình rồng khỏi chạm phải tên
Cho quân chèo rút thật êm
Xuôi về Phù Lỗ cho truyền lệnh ngay

Vua lo lắng gặp ngay Nhật Hiệu
Hỏi kế sách giải quyết tình hình
Ông này ngậm miệng làm thinh
Lấy tay chấm nước viết thành nữa câu

Vua trông thấy chữ đầu : “Nhập Tống”
Vừa thoạt trông thất vọng vô cùng
Chưa gì tính chuyện bại vong !
Làm sao xứng đáng với lòng dân yêu ?

Ngài lập tức dời thuyền đến hỏi
Quan Thái sư Thủ Độ thưa rằng
“Chưa rơi xuống đất, đầu thần
Kính mong Bệ Hạ bình tâm như thường”

Mưu cướp thuyền vô phương thành tựu
Tướng Ngột Lương trách cứ Triệt Đô
Tên này vừa sợ, vừa lo
Uống liều thuốc độc để cho xong đời

Ngày hôm sau vua sai phá sập (1258)
Cầu Phù Lỗ đã bắc qua sông
Chận đường giặc đuổi tấn công
Lập ra phương án Thăng Long rút về

Trước thế giặc đang bề hưng phấn
Quân nhà Trần lẩn tránh giao tranh
Dụ cho địch đuổi chạy quanh
Hao hơi, nhọc sức chúng đành dừng quân

Ở Thăng Long, quân Trần bỏ trống
Bốn cửa thành vắng bóng Tứ Sương
Linh Từ Quốc Mẫu lên đường
Đem theo Thái Tử, cùng hàng thân vương

Cả một đoàn con quan, vợ tướng
Theo Lịnh bà về hướng Đông Nam
Xuôi dòng Thiên Mạc rẽ ngang
Chọn nơi hiểm yếu tìm đường lánh thân

Mười hai ngày quân Trần bị đánh
Lệnh rút về ổn định quân binh
Lựa lúc tốc đánh thình lình
Tập kích địch hoảng bỏ thành thoát thân

Đông Bộ Đầu bày quân bố trận
Cho người vào thám thính mặt sau
Biết rằng địch đã tiêu hao
Thiếu lương quân đói và đau khá nhiều

Truyền Thái Tử đem theo lính thủy
Thọc cạnh sườn đánh quỵ hậu quân
Lâu thuyền bám sát bên chân
Đuổi theo lưng địch đến gần Vân Nam

Đường tháo chạy đi ngang Qui Hóa
Ta tập kích ở giữa khoảng này
Giặc Nguyên hỗn loạn loay hoay
Bị quân Hà Bổng giáng ngay mấy đòn

Thua nhục nhã vội vàng che đậy
Đổ lỗi rằng bên ấy Phương Nam
Sơn lam chướng khí quanh năm
Muỗi mòng uất nhiệt khí âm nặng nề

Giặt thất trận trở về nhếch nhác
Thân ngựa què lại vác thương binh
Tìm đường chạy trốn lấy mình
Còn đâu nghĩ chuyện đốt thành cướp lương

Dân ta diễu gọi phường “giặc Phật”
Kiểu kêu này nghe thật mỉa mai
Mới qua hung dữ tác oai
Khi về thất trận chạy dài… hiền khô !!!

Về kinh đô sau ngày chiến thắng
Đất nước ta sạch bóng quân thù
Sửa sang cung điện như xua
Xây thêm thành lũy, đình chùa miếu lăng

Ngày mồng một đầu năm Mậu Ngọ (1258)
Trước triều đình vua ngự trên ngai
Điểm danh công tội từng người
Nhớ ơn tử sĩ lập đài ghi công

Xuống chiếu phong Đại phu ngự sử
Cho Lê Tần vì đã có công
Và khen Hà Bổng hết lòng
Giữ yên biên giới trấn phong cõi ngoài

Gả Chiêu Hoàng cho quan Ngự sử
Trần Thái Tông không kể tình thâm
Chung chăn, chung gối, bao năm
Vợ mình chịu để ăn nằm với ai !

TRẦN THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1258 – 1278)

Vào một ngày tháng hai, năm Ngọ
Vua truyền ngôi, nhường chỗ cho con
Thánh Tông năm ấy vừa tròn
Tuổi lên mười tám đủ khôn với đời

Lễ nhường ngôi cho Hoàng Thái Tử
Lui về nhà ở tại Bắc Cung
Con tôn lên chức Thượng Hoàng
Trông coi chính sự chung cùng với con

Xuất gia rồi lên non Yên Tử
Gột lòng trần vui thú kệ kinh
Thành tâm sám hối đời mình
Đời như bóng nước, vô minh đắm chìm

Cửa thiên môn đã quen hôm trước
Bữa tương chao ở trốn Trúc Lâm
Thái Tông lùng kiếm cái tâm
Viết thành Phổ Thuyết Sắc Thân để truyền

Tam thời trần liễm thiên biên tử
Nguyệt lạc tường giang dạ kỷ canh
Ngôi cao những bước gập ghềnh
Mượn màu thiền đạo giúp mình định tâm

Mười chín năm đi tìm bến Giác
Chuyện triều đình ủy thác cho con
Chuyên tâm nghiên cứu Thiền Tông
Đến năm Đinh Sửu Thái Tông băng hà

Ráng trời chiều sương sa mặt nước
Gió trầm luân một bước thế gian
Có không trở giấc kê vàng
Khoanh tay có được vô thường hay chăng ?

Ngồi ở trên ngai vàng Hoàng Đế
Là Trần Hoảng lên thế Thái Tông
Đổi thành niên hiệu : Thiên Long
Lo cha yên vị , lập cung riêng mình

Thánh Tông sinh vào năm Canh Tý
Là một người có chí, có nhân
Tôn hiền, trọng đạo, thương dân
Kế thừa cơ nghiệp nhà Trần về sau

Hăm mốt tuổi cầm đầu đất nước
Vua đã đi những bước vững vàng
Xiển dương văn hóa dân gian
Chỉnh trang quân đội, lo toan quốc phòng

Việc hành chánh chưa thông, phải sửa
Khắp mọi vùng đều mở Thái y (1261)
Nơi nơi đều có trạm, ty
Chăm lo sức khỏe cấp kỳ cho dân

Lấy những người tinh thông nghề nghiệp
Tôn làm thầy hướng dẫn dạy dân
Khuyến nông trồng trọt chuyên cần
Lập phường, lập hội ngày dần phồn vinh

Để tôn vinh những người cao tuổi
Thượng hoàng bày một buổi tiệc to
Lão ông ban tước hai tư
Lão bà được tặng lụa vua đề dành

Việc giáo dục ưu tiên tối thượng (1272)
Lấy đạo Nho làm hướng trị dân
An sinh xã hội đang cần
Đem lời Khổng Mạnh để răn mọi người

Định qui chế tuyển người làm việc (1275)
Phải tinh thông, chữ viết cho nhanh
Nghề nào, nghiệp đó phải rành
Mới cho bổ nhậm trong thành, ngoài biên

Lại xuống chiếu chiêu hiền đãi sĩ
Mở khoa thi định lệ hằng năm
Chọn người vào viện Hàn Lâm
Lựa ai tài giỏi nhiệt tâm để dùng

Dạy Đông cung mời thầy uyên bác
Thông Ngũ kinh, làu thuộc Tứ Thư
Chọn người đức hạnh có thừa
Hiểu thông Phật giáo lại vừa Minh kinh

Lê Văn Hưu vốn rành lịch sử (1272)
Đại Việt Sử vừa mới viết xong
Ba mươi quyển ấy gồm chung
Viết từ Triệu Vũ đến năm Chiêu Hoàng

Năm Bính Dần nhà vua xuống chiếu (1261)
Cho vương hầu, công chúa khai hoang
Mộ dân cày cuốc mở mang
Phá rừng, khẩn đất lập thành điền trang

Chia binh lính ra thành đội ngũ (1267)
Chọn Tôn thất nghề võ thật tài
Một Đô gồm tám mươi người
Quân gồm ba chục Đô này vừa đông

Cho tập trận nơi sông Bạch Hạc
Lại sai người chế tác gươm đao
Đóng thêm thuyền chiến để vào
Góp phần dự trữ khi nào giao tranh

Để biết thêm nội tình của địch
Vua ngầm sai tình báo sang Nguyên
Thế Quang mượn cớ đi tìm
Thu mua thảo dược mà đem về dùng

Vào mùa đông tháng mười Giáp Tuất (1274)
Ba mươi thuyền Trung Quốc ghé vô
Xin vua lánh nạn rợ Hồ
Nhai Tuân cấp đất lưu cư tạm thời

Hốt Tất Liệt sai người sang dụ
Vua liền sai chánh sứ mang thư
Sang Nguyên thông hiếu đáp từ
Phụng Công, Nguyễn Thám công du chuyến này

Năm Kỷ Mùi, Linh Từ Quốc Mẫu (1259)
Người từng là Hoàng Hậu Huệ Tông
Đến khi Thủ Độ loạn luân
Lấy ngay kẻ ấy làm chồng về sau

Bỏ Huệ Tông là điều bất nghĩa
Theo thái sư thất tiết tất nhiên
Nhưng là mẹ của Thuận Thiên
Nên chi vua phải đương nhiên gọi : Bà

Năm năm sau khi bà vừa thác
Trần Thủ Độ cũng bước qua đời (1264)
Tỏ lòng ngưỡng mộ với người
Thái Tông chế tác một bài văn bia

Triều nhà Trần sống quen thành lệ (1268)
Cùng họ Trần có thể lấy nhau
Hoàng gia khi đã bãi chầu
Vào trong cung điện, sân sau lan đình

Trong cung cấm linh đình yến tiệc
Rồi cùng nhau ăn uống no nê
Khi nào trời tối không về
Vào trong ở lại giường kề ngủ chung

Lúc thong dong thơ văn xướng định
Bạn của ngài Tuệ Tĩnh thiền sư
Vua làm hai quyển Di thư
Sách “Di hậu lục” dạy cho con mình

Chọn ngày lành nhường ngôi hoàng đế
Cho con mình thái tử Trần Khâm
Tháng mười ngày tốt, năm Dần (1278)
Lui về phủ đệ dành phần cho con

(Hồ Đắc Duy)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: